Liên kết website
 Lượt truy cập
Thống kê: 99.624
Online: 1

Nghề đúc đồng Trà Đông xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa thuộc loại hình di sản nghề thủ công truyền thống, Chủ thể của di sản là một cộng đồng làng nghề Trà Đông

Nghề đúc đồng Trà Đông xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa thuộc loại hình di sản nghề thủ công truyền thống, Chủ thể của di sản là một cộng đồng làng nghề Trà Đông. Nghề đúc Trà Đông không rõ chính thức ra đời từ bao giờ ? Chưa có một tài liệu nào cho biết chính xác, nhưng theo truyền thuyết nghề đúc mới có từ cuối thời Tiền Lê đầu thời Lý do hai người họ Vũ mang đến cho làng trà Đông nên ở làng còn có câu ca “Đất họ Lê - nghề họ Vũ”, cũng có thuyết cho rằng, nghề đúc đồng ở làng Trà Đông là do ông Thái sư Không Lộ, tự Minh Không truyền nghề (Khổng Minh Không là một nhân vật huyền thoại). Sau khi từ Trung Quốc về, ngài cùng hai đồ đệ chu du khắp nơi tìm đất làm khuôn đúc đồng. Đi mãi, đến Trà Sơn Trang, (Trà Đông) ngài mới tìm được đất tốt, đem về vùng Lâm Trúc Sơn (Hà Nội) để đúc bộ tứ khí gồm: Tháp Bảo Thiên, vạc Minh Đỉnh, tượng Quỳnh Lâm, chuông Phả Lại. Sau đó ngài cho 2 đồ đệ về Trà Sơn Trang mở lò truyền nghề đúc cho dân.

Nghệ nhân đúc đồng xã Thiệu Trung.JPG

* Quy trình sản xuất:

- Khâu tạo khuôn mẫu: Nguyên liệu chính là đất sét, trấu lúa xay. Hỗn hợp hữu cơ gồm trấu đốt cho cháy đỏ, loại cháy hết nhưng chưa thành tro bụi được nghiền lẫn với đất sét đã sử dụng thành bột cho ngâm ủ với nước vừa phải có thời gian từ 10 ngày trở lên để tạo độ kết dính. Trấu xay kết hợp với trấu đốt cháy đen sau đó được pha chế với bột chì (glo phíp) tỷ lệ 0,5% .

Tạo khuôn mẫu đúc được chia làm 2 bộ phận:

+ Khuôn ngoài: được tạo bởi hình dáng hoa văn được thể hiện trên sản phẩm sau khi đúc. Quá trình thể hiện được thực hiện qua các bước tạo hình “xe cốt”, khuôn mẫu được làm 2 mảnh như nhau, sau đó tạo hoa văn của sản phẩm.

+ Khuôn trong (cốt trong hay còn gọi là thao). Nguyên liệu để làm khuôn trong cũng như khuôn ngoài, quy trình tạo mẫu khuôn ngoài gồm “dựng cốt”, tre ngáng “cao thao”, dặm thao và xẻ cốt. Khi khuôn ngoài và khuôn trong đã tạo xong mẫu thì tiến hành phơi, sấy và nung làm cho khuôn khô. Sau khi nung đến cung đoạn mài, giọt “làm thịt thao”, trảm thao, đống nén để thử khuôn trong và khuôn ngoài. Trước khi nung khuôn thường được phơi khuôn ngoài trời nắng cho khuôn khô nước, để khi nung khuôn được rắn chắc và giảm chi phí nguyên liệu. Khi nung khuôn chỉ tiến hành mài giọt, tạo khe hở theo độ dày mỏng của sản phẩm để khi lắp ghép khuôn ngoài và khuôn trong có khe hở theo độ dày mỏng. Sauk hi “mài giọt” khuôn thì làm “dò khuôn” và trảm thao dò khuôn thì dùng bằng thanh tre nứa vuốt nhẵn, có kích thước theo độ dày mỏng của sản phẩm. Sau đó thét khuôn để kiểm tra độ dày, mỏng rồi tháo khuôn ra lấy tro mên ướt xoa lên toàn bộ thao dùng dẻ bọc “sành” cho phẳng mịn, sấy lại khuôn gọi là “trản khuôn” và sau đó lắp ghép khuôn.

* Quy trình đúc đồng: Là khâu kỹ thuật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Dụng cụ đúc đồng gồm: nồi cơi, ống cơi và bể thổi lửa. Khi mọi công việc đã chuẩn bị xong, người thợ tiến hành đốt lò và cho nguyên liệu vào nồi nấu đồng gồm than các loại, đồng và kim loại đã pha chế. Khi nấu cho than và đồng vào ống cơi, dùng quạt gió thổi theo tốc độ phù hợp, theo từng cung đoạn than cháy hồng đến nhiệt độ khoảng 800 0 C là đồng bắt đầu chảy, nước đồng chảy qua đầu móng nồi trên xuống nồi cơi, còn than nổi lên trên lúc đó bổ sung thêm kim loại khác theo tỷ lệ, than đốt đến khi đồng chảy hết thấy nồi đồng và ống cơi chỉ còn khói trắng là được. Nâng “ống cơi” gạt lọc hết tạp chất nổi ở trên nồi đồng rồi dùng tro bếp dây mịn đắp phủ lên để giữ nhiệt, sau đó đổ đồng vào khuôn, khi rót đồng vào khuôn yêu cầu phải có kỹ thuật và kinh nghiệm. Khi đổ đồng vào khuôn, đồng chảy phải có ngọn chảy đều và đổ liên tục cho đến khi đầy. Khi vừa đổ đồng xong phải khẩn trương tháo sạch sẽ để đồng co giãn thoát khí nhanh để không bị dính khuôn và rạn nứt sản phẩm. Các cung đoạn trên hoàn tất để trong thời gian vừa phải (phụ thuộc vào từng loại sản phẩm dày hay mỏng, to hay nhỏ). Nhưng thông thường trống Ø 120mm đến 300mm khoảng 20 phút. Ø 300mm đến 450mm khoảng 30 phút là được rồi tháo khuôn ra để lấy sản phẩm. Sau khi lấy sản phẩm ra, làm nguội nhẵn đánh bóng sản phẩm là xuất xưởng.

San phảm đồng T Trung.JPG

Hiện nay, do nhu cầu sử dụng rộng rãi nghề mới phát triển lan ra khắp làng. Mỗi gia đình là một cơ sở sản xuất, là một lò riêng, chủ gia đình cũng là chủ lò đúc. Ngoài công việc chính là đúc ra sản phẩm, các khâu khác quan trọng như tìm kiếm nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm đều do các gia đình đảm nhận. Việc đúc đồng là một công việc nặng nhọc, vất vả, chủ yếu do người đàn ông trong gia đình đảm nhiệm. Người phụ nữ ở Trà Đông làm các công việc phụ gia đình và tiêu thụ sản phẩm. Theo số liệu điều tra tại làng nghề hiện tại có 15 hộ theo nghề đúc, trong đó có 4 hộ chuyên đúc đồng, 11 hộ còn lại chuyên về nhôm, gang… Các sản phẩm như: chuông đồng, tượng đồng và chiêng đồng vẫn đảm bảo chất lượng và yếu tố thẩm mỹ như xưa vậy. Với những việc làm như vậy đã thực sự góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Do đó, ngày 4/9/2018 Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện đã ký ban hành quyết định số 3325/QĐ - BVHTTDL về việc công bố danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trong đó, nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè (Trà Đông), xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa (Thanh Hóa) được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Trần Ngọc Tùng - Phó Trường phòng VHTT huyện

 Bình luận


Mã xác thực không đúng.